7 Xu Hướng Tuyển Dụng Năm 2018 Ngành Công Nghệ Thông Tin

Từ kết quả khảo sát đánh giá mức lương hiện tại và xu hướng tuyển dụng công nghệ trên 8.000 chuyên gia công nghệ ở Bắc Mỹ, bao gồm 2,500 giám đốc, cuộc đấu tranh tuyển dụng nhân sự giỏi ở các công ty kỹ thuật đã trở nên ít căng thẳng hơn.

Sau đây là 7 trong số các xu hướng CNTT lớn nhất đang tuyển dụng và nó sẽ tác động đến các doanh nghiệp cũng như xu hướng tìm việc làm trong năm tới như thế nào.

Sự thiếu hụt nhân tài

Theo báo cáo, tình trạng thiếu nhân tài của các công nhân kỹ thuật không còn chỉ là sự bất tiện cho các chủ doanh nghiệp mà còn nhanh chóng trở thành một vấn đề kinh doanh quan trọng. Khi các ứng viên tìm việc làm ứng tuyển vào các vị trí trong công ty thường chưa đáp ứng được yêu cầu và phẩm chất đề ra.

Có khoảng 44% các giám đốc nói rằng họ bỏ lỡ những tài năng hàng đầu bởi vì các ứng viên đang tìm việc làm với mức lương cao hơn họ có thể cung cấp. Kết quả là đã có sự gia tăng trong các công ty thuê ít công nhân có kinh nghiệm hơn.

Tuyển dụng chậm

Để có được các nhân viên giỏi trong thời gian tới, các doanh nghiệp cần đẩy mạnh quá trình tuyển dụng. Nghiên cứu cho thấy rằng, để thúc đẩy quá trình kinh doanh, nhiều công ty đang kéo dài quá trình tuyển dụng. Đó là một vấn đề bởi vì khoảng 2/3 các vị trí nhân sự cho biết họ sẽ mất hứng thú với công việc nếu không không có lịch trình phỏng vấn.

Cuộc khảo sát cho thấy các chủ doanh nghiệp phần nào nhận thức được vấn đề này, vì 41% nói rằng họ không hài lòng với quy trình tuyển dụng hiện tại. Trung bình, cuộc khảo sát cho thấy phải mất 4,5 tuần để hoàn thành vai trò của nhân viên. Các doanh nghiệp cần phải thiết lập một quy trình mới để họ có thể nhanh chóng thuê và có tài năng có chất lượng.

Tự động hóa

Trong tương lai, vấn đề tự động hóa sẽ không hoàn toàn làm mất đi cơ hội việc làm của các ứng viên. Ít nhất là bây giờ, nó chỉ đơn giản là thay đổi các kỹ năng quan trọng đối với các doanh nghiệp. Theo một cuộc khảo sát, ngành công nghiệp tài chính đã trải qua một sự thay đổi về kỹ năng nhờ tự động hóa. Trong số những người được khảo sát, 56% các Giám đốc tài chính nói rằng họ mong đợi tự động hóa để mang lại hiệu quả tăng lên về tài chính và 43% cũng cho thấy việc ra quyết định được cải thiện.

Trong khi các giám đốc tài chính đang lạc quan về tự động hóa, họ cũng mong đợi nó thay đổi các ưu tiên và các kỹ năng cơ bản của họ. Đến năm 2020, giám đốc tài chính mong muốn “theo kịp với công nghệ thay đổi” là ưu tiên hàng đầu, tiếp theo là quản lý dữ liệu lớn, tuân thủ và duy trì các tiêu chuẩn báo cáo tài chính. Để so sánh, ưu tiên hàng đầu vào năm 2017 là đáp ứng được các yêu cầu tuân thủ quy định, trong khi khai thác và quản lý dữ liệu lớn lại được đưa ra cuối cùng.

Nhu cầu về công nghệ

Công nghệ là một nhu cầu ngày càng tăng trong mọi ngành công nghiệp, nhưng cuộc khảo sát cho thấy các ngành công nghiệp đang gặp phải nhu cầu cấp thiết cho nhân viên công nghệ. Các chuyên gia chăm sóc sức khoẻ, tài chính và sản xuất cho thấy nhu cầu ngày càng tăng về vấn đề tuyển dụng nhân sự công nghệ trong ngành.

Trong chăm sóc sức khoẻ, cần hiện đại hóa và đổi mới để cung cấp chăm sóc bệnh nhân tốt hơn. An ninh và chuyên gia dữ liệu đang có nhu cầu trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính vì an ninh trở thành ưu tiên hàng đầu.

Kỹ năng mềm

Khi công nghệ đóng vai trò then chốt trong mọi doanh nghiệp, điều quan trọng là thuê các chuyên gia công nghệ có thể giao tiếp và cộng tác với các phòng ban khác không công nghệ. Điều đó có nghĩa các nhà tuyển dụng quan tâm nhiều hơn đến các ứng viên có kỹ năng lắng nghe, tư duy phê bình và giao tiếp mạnh mẽ.

Chẳng hạn, 47 % các chủ doanh nghiệp nói rằng nhóm của họ cần hợp tác với tiếp thị để hỗ trợ các sáng kiến ​​kỹ thuật số, đòi hỏi nhiều hơn kỹ năng kỹ thuật. Khi CNTT trở nên quan trọng hơn đối với doanh nghiệp, các kỹ năng mềm là yếu tố quan trọng để giúp các ứng viên tìm việc làm trong tương lai, đồng thời giúp thu hẹp khoảng cách và thúc đẩy truyền thông.

Hài lòng và căng thẳng đối với nhân viên công nghệ

Ngành công nghệ hiện đang đứng thứ 6 trong số những ngành có nhiều điều hạnh phúc nhất và lại đứng đầu trong những ngành có nhiều căng thẳng trong công việc. Một số sự hài lòng đó có thể đến từ việc bồi thường và quyền lợi mà các công ty sử dụng để thu hút tài năng.

Chỉ có 19% các công ty cho biết họ không cung cấp tiền thưởng và chỉ 17% nói rằng họ dựa vào mức lương tăng theo thời gian phục vụ. Đối với 72% doanh nghiệp, tăng là dựa trên thành tích, trong khi 65% nói rằng bồi thường được dựa trên tổ chức hoặc hiệu suất cá nhân. Những ưu đãi này giúp khuyến khích người lao động và giữ họ hài lòng trong công việc.

Tìm kiếm nhân viên CNTT tiềm năng

Để có được tài năng tốt nhất trong một thị trường cạnh tranh, các công ty đã chú trọng đến lợi ích của người tìm việc làm, các lợi ích này được bổ sung bên ngoài các dịch vụ tiêu chuẩn mà bạn sẽ tìm thấy ở hầu hết các công ty. Các hoạt động này bao gồm lịch trình làm việc linh hoạt (62%), các sự kiện xã hội thường xuyên (39%), cơ hội làm việc từ xa (34%), tại chỗ hoặc phòng tập miễn phí (25%), thời khóa biểu nén (17%) và thực phẩm miễn phí (13 %).

Để giữa chân những nhân viên tài năng các công ty cũng có các ưu đãi như giải thưởng cho thành tích cá nhân và nhóm (37%), chia sẻ lợi nhuận (20%), tiền thưởng lưu động (18%), lựa chọn cổ phiếu (18%) và bồi thường chậm (16%).

Các Trường Đại Học Đào Tạo Sinh Viên Theo Yêu Cầu Tuyển Dụng Của Doanh Nghiệp

Trong nỗ lực cải thiện chất lượng đào tạo, giảm tỷ lệ thất nghiệp, và giải quyết vấn đề tìm việc làm trong tương lai, nhiều trường đại học và cao đẳng trong cả nước đã quyết định đào tạo sinh viên theo đơn yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp.

Bản tin lao động mới nhất cho biết khoảng 200.000 người lao động đã có bằng cử nhân và thạc sĩ về quản trị kinh doanh, tiếp thị, chứng khoán và ngân hàng.

Một báo cáo khác cho thấy 6 trong số 10 sinh viên tốt nghiệp đại học thiếu kỹ năng tiếng Anh và những chứng chỉ tiếng Anh, trong khi bốn trong số 10 sinh viên tốt nghiệp thiếu kiến ​​thức chuyên môn. Số liệu khác cho thấy 6 trong 10 nhà tuyển dụng không hài lòng về chất lượng giáo dục đại học.

Các nhà phân tích chỉ ra rằng đó là sự liên kết lỏng lẻo giữa các nhà giáo dục và các doanh nghiệp đã dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp cao của sinh viên tốt nghiệp đại học, các em sau khi ra trường gặp nhiều khó khăn khi tìm việc làm. Trong nhiều trường hợp, sinh viên tốt nghiệp có kiến ​​thức lý thuyết tốt, nhưng vẫn không thể đáp ứng các yêu cầu cơ bản của nhà tuyển dụng.

Nhiều công nhân và người lao động khi được hỏi về trải nghiệm tại trường đại học, họ chia sẻ rằng học đại học thật sự là con đường tốt cho tương lai nhưng dường như có quá nhiều môn học và nhiều người thực sự không cần thiết cho công việc hiện tại của họ. Nhiều kiến thức và kỹ năng không được áp dụng vào thực tế và lại thiếu những kiến thức giúp họ tìm việc làm.

Ông Nguyễn Văn Nhã, nguyên trưởng bộ phận đào tạo của Đại học Quốc gia Hà Nội cũng cho biết sinh viên Việt Nam tụt lại phía sau do chương trình giảng dạy tại các nhiều trường đại học, cao đẳng không thực tế và còn chú trọng lý thuyết quá nhiều.

Kết luận đã thúc đẩy các nhà giáo dục đào tạo sinh viên theo yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp. Chính sách này sẽ cung cấp cho sinh viên kiến ​​thức và kỹ năng thực hành cần thiết cho công việc trong tương lai của họ và tạo ra những sinh viên tốt nghiệp có thể dể dàng tìm việc làm hơn, đáp ứng tốt các yêu cầu của người sử dụng lao động.

Trước mùa nhập học năm 2016, Trường Đại học Hòa Bình Hà Nội thông báo chương trình đào tạo, theo đó sẽ đào tạo 60 cử nhân chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng.

Trường nói rằng sau khi hoàn thành chương trình đào tạo chuẩn, sinh viên tốt nghiệp sẽ có cơ hội làm việc tại các ngân hàng. Sau một năm thực tập, sinh viên sẽ được chứng nhận về kinh nghiệm làm việc của họ.

Các sinh viên được đào tạo theo chương trình sẽ nhận được kiến ​​thức sâu hơn và thực hành nhiều kỹ năng, bao gồm khả năng hoạt động, phân tích và lập trình và nghiên cứu chính sách.

Trong khi đó, sinh viên đã nghiên cứu tin học theo tiêu chuẩn quốc tế IC3, tiếng Anh và các kỹ năng mềm, được cho là có ích trong công việc trong tương lai của họ.

Đào tạo cho sinh viên các đơn hàng kinh doanh cũng là phương thức đào tạo được áp dụng bởi một số trường khác như Đại học Công nghiệp Hà Nội, Đại học Thái Bình Dương và Đại học Tiền Giang.

Tại tỉnh Hà Tĩnh, giai đoạn 2013-2014, nhiều trường cao đẳng (đào tạo 3 năm) và trung cấp (đào tạo 2 năm) đã ký hợp đồng với hàng chục doanh nghiệp ở địa phương để đào tạo hơn 1.000 công nhân. Hầu hết các công nhân được đào tạo về các đơn đặt hàng đã tìm được công việc ổn định.

Ở miền Nam, Trường Trung cấp nghề Kiên Giang đã hợp tác với Công ty Cổ phần Du lịch Sài Gòn Phú Quốc trong một chương trình đào tạo công nhân cho công ty du lịch trong nhiều năm. Trường cũng cung cấp một số lượng lớn người lao động cho Công ty Cổ phần Cơ khí Kiên Giang.

Học Sinh Giỏi Không Học Đại Học Vì Lo Lắng Thất Nghiệp

Từ trước đến nay, vấn đề khó tìm việc làm hoặc thất nghiệp đối với sinh viên tốt nghiệp đại học đã trở thành nỗi lo lắng với nhiều bạn trẻ đang chuẩn bị tốt nghiệp trung học phổ thông. Nhiều học sinh với điểm số và khả năng rất giỏi nhưng lại chọn cho mình còn đường tìm việc làm khác thay vì tiếp tục theo học đại học.

Theo khảo sát ở các tỉnh thành, nhiều em học sinh lớp 12 đã quyết định lđi tìm việc làm ngay sau khi thi tốt nghiệp trung học phổ thông dù được đánh giá là có thừa khả năng để đậu đại học. Tuy nhiên, khi được hỏi về quyết định của mình, nhiều học sinh chia sẻ rằng họ không có đủ kinh phí để theo học đại học cũng như không chắc chắn có tìm được việc làm tốt trong tương lai hay không.

Các học sinh cho rằng họ sẽ không hối hận về quyết định của mình. Họ cho biết thêm, đó sẽ là một khoản lãng phí lớn cho tiền của bố mẹ và thời gian trong vòng 4,5 năm cho việc học đại học và có thể trong tương lai không thể tìm được việc làm.

Khi tiến hành khảo sát tại các trường cấp 3 về vấn đề theo học đại học, nhiều bạn học sinh cho biết từng mơ ước được lên đại học sau khi tốt nghiệp trung học. Tuy nhiên, họ đã từ bỏ giấc mơ sau khi thấy những người thân trong gia đình không tìm được việc làm sau khi ra trường.

Một học sinh chia sẻ rằng, ngay sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông sẽ bắt tay vào tìm việc làm ngay, bên cạnh đó em cũng muốn làm việc và tích lũy kinh nghiệm sớm để có nhiều cơ hội để làm việc tại môi trường nước ngoài.

Một học sinh ở tỉnh Quảng Bình, cũng quyết định không đi học đại học sau khi tốt nghiệp trung học năm ngoái, mặc dù em là một học sinh giỏi với thành tích rất tốt.  Em chia sẻ vì đã thấy nhiều anh chị sinh viên dành rất nhiều thời gian học đại học nhưng công việc vẫn bấp bênh và em muốn tìm cho mình một hướng đi khác.

Tỷ lệ thất nghiệp cao trong số học sinh tốt nghiệp đại học đã làm học sinh sợ hãi. Nhiều người trong số họ không tham gia giáo dục đại học mặc dù họ có điểm tốt.

Nhiều em học sinh đã làm việc tại cửa hàng bán thời trang, làm tóc, mỹ phẩm,…hoặc tham gia học nghề, các em đều mong muốn được làm chủ một cửa hàng kinh doanh hoặc chuyên về dịch vụ khách hàng trong tương lai.

Không chỉ học sinh, mà cha mẹ cũng lo lắng về cơ hội việc làm của con em mình sau khi tốt nghiệp đại học.

Một phụ huynh học sinh của Trường THPT Võ Nguyên Giáp cho biết, bà rất lo cho tương lai của con trai, ngay cả khi con mình đỗ kỳ thi vào đại học.

Bà chia sẻ rằng rất muốn con trai mình sẽ đậu vào đại học, đó là phần thưởng quý giá cho sự nỗ lực miệt mài của 12 năm đèn sách. Nhưng một phần bà vẫn lo lắng vì chưa chắc dành nhiều năm học đại học con bà có thể tìm được công việc ổn định và lo cho tương lai lâu dài được hay không.

Một trường trung học ở Hà Nội nhận xét rằng nhiều bậc cha mẹ có khuynh hướng suy nghĩ và hành động tiêu cực hoặc theo số đông. Những năm trước đây, rất nhiều bậc phụ huynh đã cố gắng ép con mình đi học đại học với bất kỳ giá nào. Nhưng hiện nay, họ có khuynh hướng tránh xa trường đại học sau khi nghe về tỷ lệ thất nghiệp cao trong số học sinh tốt nghiệp đại học.

Ở nhiều tỉnh thành nhỏ lẻ, có gần 70% học sinh trung học không có ý định đến trường sau khi tham dự kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông.

Ví dụ ở Hòa Bình, 5.600 trong số 8.100 học sinh sẽ không theo học đại học. Tại tỉnh Hà Giang, chỉ có 1.800 trong tổng số 6.700 học sinh dự định nộp đơn xin thi đại học.

Vai Trò Chính Của Các Doanh Nghiệp Trong Giáo Dục Đại Học

Có rất nhiều điều đã được nói và viết về chất lượng của sinh viên tốt nghiệp đại học của Việt Nam.

Các vấn đề mà từ lâu đã cản trở ngành giáo dục đại học của đất nước vẫn chưa được giải quyết triệt để và các cơ sở giáo dục vẫn tiếp tục làm lu mờ những sinh viên tốt nghiệp thiếu kỹ năng tìm việc làm và hoàn thành công việc đầu tiên sau khi tốt nghiệp.

Trong khi các trường đại học cần tiếp tục đổi mới chương trình giảng dạy của họ thì cũng có một vai trò cho các doanh nghiệp đóng góp vào việc nâng cao chất lượng sinh viên tốt nghiệp mới bằng cách liên kết với các trường đại học để xác định kiến ​​thức và kỹ năng cần thiết cho sinh viên với vấn đề tìm việc làm trong tương lai.

Dự án POHE do Chính phủ Hà Lan tài trợ bắt đầu vào năm 2005 và nhằm giúp Việt Nam hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để đạt được mục tiêu từ 70 đến 80% sinh viên tốt nghiệp đang sẵn sàng tiếp nhận việc làm sau khi tốt nghiệp.

Nó cũng tìm cách thay đổi tư duy ở ba cấp độ: trình độ đại học, trình độ giảng dạy, và cấp bộ. Giai đoạn thứ hai của nó đã được tiến hành từ năm 2012 đến năm 2015 và một báo cáo về các nỗ lực của nó đã được phát hành vào tháng Sáu.

Theo Siep Littooij, đồng giám đốc của dự án POHE, đã mất rất nhiều thời gian để thay đổi cách suy nghĩ của các trường đại học Việt Nam để thuyết phục họ thay đổi chương trình học tập để thích ứng với nhu cầu của doanh nghiệp và xã hội.

Mặc dù họ đã nỗ lực rất nhiều trong việc thu hút sinh viên, khi tốt nghiệp hầu hết khó tìm việc làm vì thiếu kỹ năng mà nhà tuyển dụng yêu cầu.

Việc giảng dạy về tinh thần kinh doanh tại các trường đại học Việt Nam đã được tăng cường trong khuôn khổ dự án POHE, với sự hiểu biết của các trường đại học về sự cần thiết phải kết nối với các doanh nghiệp trong việc thiết lập các chương trình giảng dạy.

Theo dự án, từ năm 2012 đến năm 2015, trên 4.800 sinh viên nhận được hỗ trợ trong việc tìm kiếm việc làm, với 556 doanh nghiệp đồng ý hợp tác với tám trường đại học trong việc nâng cao chất lượng sinh viên tốt nghiệp của họ.

Mặc dù chỉ có 8 trong số 300 trường đại học thuộc sở hữu Nhà nước tham gia dự án, việc giảng dạy về kinh doanh tại các trường đại học bắt đầu có hiệu lực.

Doanh nhân tại các trường đại học

Các giảng viên đại học ở Việt Nam có kiến ​​thức về lĩnh vực cụ thể của họ nhưng không biết học sinh của họ áp dụng kiến ​​thức như thế nào sau khi tốt nghiệp.

Điều cần thiết là phải thay đổi phương pháp giảng dạy để tập trung vào thực tiễn hơn là lý thuyết, điều này thể hiện nhiều thách thức.

Trong các lĩnh vực mới và năng động, có ít khoảng cách giữa nhu cầu của doanh nghiệp và trình độ hiểu biết của sinh viên bởi vì giáo viên cũng tìm thấy những môn này thú vị để giảng dạy, ông nói.

Với các chủ đề cổ điển, trong khi đó, vẫn còn có một sự lo sợ thay đổi vì các chương trình giảng dạy phải được chú ý nhiều hơn.

Tuy nhiên, sự nhiệt tình của giáo viên về cải cách phương pháp dạy học không phải là trở ngại lớn nhất, vì thay đổi phương pháp dạy học đòi hỏi giáo viên phải làm việc chăm chỉ hơn mà không phải trả thêm tiền.

Việc đổi mới phương pháp giảng dạy sẽ không chỉ cập nhật chương trình giảng dạy do đó dựa trên nghiên cứu khoa học mà còn có nghĩa là các trường đại học phải liên hệ với doanh nghiệp để hiểu được nhu cầu của họ và họ cũng phải thuyết phục các doanh nghiệp chấp nhận sinh viên của mình thực tập.

Mặc dù nhiều người rất quan tâm đến việc liên hệ với các doanh nghiệp, nhưng thiếu ngân sách để thực hiện.

Các trường đại học có thể quyết định chương trình giảng dạy theo Thông tư số 7 ban hành vào năm 2015. Nếu muốn thay đổi chương trình học, họ có thể nhờ tư vấn hoặc tư vấn từ các doanh nghiệp về việc liệu những thay đổi có phù hợp với nhu cầu của họ hay không.

Nhu cầu của các doanh nghiệp nên xác định mục đích đào tạo, chứ không phải các nhà khoa học hay trường đại học, mà các doanh nghiệp cho rằng đó là sự thay đổi lớn nhất trong suy nghĩ cần thiết tại các trường đại học.

Thông qua Thông tư, các trường đại học đã có nhiều quyền tự do hơn trong việc quyết định chương trình giảng dạy để đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp.

Mặc dù sự sẵn sàng thay đổi giữa các giáo viên, ông Littooij vẫn lo ngại rằng các trường đại học không muốn đưa ra các quyết định độc lập và thường xuyên chỉ thực hiện những gì mà Bộ yêu cầu họ làm.

Cần nhiều nỗ lực hơn từ các doanh nghiệp

Hầu như mỗi năm, các hội nghị của POHE đều nghe được những khó khăn mà các trường đại học có liên quan đến doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp yêu cầu các trường đại học phải trả tiền khi họ yêu cầu thực tập thực hiện.

Sinh viên muốn có một chương trình thực tập nhưng cả họ và các trường đại học đều không đủ khả năng để thực hiện công việc này. Điều này rất phổ biến ở Việt Nam.

Tại Malaysia và Singapore, việc xác định mức lương phù hợp là yếu tố quan trọng nhất khi tiến hành các nỗ lực tuyển dụng.

Tuy nhiên, khi tìm việc làm tại Việt Nam, chỉ có 14% các công ty được khảo sát xem lương là vấn đề quan trọng nhất, trong khi 84% xem chất lượng của người nộp đơn là vấn đề quan trọng nhất.

Sinh viên tốt nghiệp mới không chỉ thiếu kinh nghiệm mà còn cần nhiều đào tạo. Chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam đứng ở vị trí thấp nhất trong khu vực, đặc biệt là về kỹ năng tiếng Anh.

Sự thiếu trung thành và mong muốn thay đổi công việc cũng làm cho nhà tuyển dụng cảnh giác việc tuyển dụng những sinh viên tốt nghiệp gần đây.

Có 29% người trả lời cho biết họ sẽ cố gắng thay đổi công việc sau lần hẹn đầu tiên của họ, trong khi ở Singapore và Malaysia con số này chỉ là 12%.

Ước tính gần 70% doanh nghiệp ở Việt Nam không muốn tuyển sinh viên mới tốt nghiệp vì lo lắng về kỹ năng, trong khi 33% không muốn vì họ tin rằng họ sẽ nhanh chóng thay đổi công việc.

Các doanh nghiệp đã phàn nàn thường xuyên nhưng chất lượng của sinh viên tốt nghiệp đã không thực sự cải thiện.

Các doanh nghiệp suy nghĩ về vai trò của họ. Lớn hay nhỏ, tất cả đều cần phải tìm đến các trường đại học về nguồn nhân lực và làm việc để xác định nhu cầu đào tạo và không chỉ cung cấp thực tập. Các doanh nghiệp nên suy nghĩ về nhu cầu nhân lực dài hạn.

Sau đó họ nên giải thích cho các trường đại học những gì họ mong đợi của sinh viên tốt nghiệp trong ba hoặc năm năm tới, để các trường đại học có thời gian để thích nghi.

Trong khi tỷ lệ thất nghiệp trong số sinh viên tốt nghiệp vẫn còn cao, doanh nghiệp không thể tìm được ứng viên thích hợp.

Nhiều doanh nghiệp chia sẻ rằng họ không ngần ngại cung cấp những kỹ năng và kỹ năng mềm cho sinh viên tốt nghiệp. Thông qua các chương trình của công ty, nó có thể xác định các tài năng mới và cải thiện sinh viên tốt nghiệp để giúp phát triển nó.

Các trường đại học hiện đang sẵn sàng làm việc với các doanh nghiệp nhưng các doanh nghiệp nên coi các trường đại học là đối tác để nâng cao chất lượng sinh viên tốt nghiệp.

Video: Giáo dục đại học theo định hướng POHE